top of page

Thị trường gỗ Việt Nam quý II/2026: Xuất khẩu tăng trưởng, đơn hàng phân hóa và áp lực chi phí

20 hours ago
7 min read

Quý II/2026, kim ngạch xuất khẩu của thị trường gỗ và sản phẩm từ gỗ của Việt Nam đạt 4,59 tỷ USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, khảo sát doanh nghiệp cho thấy đơn hàng tại một bộ phận cơ sở chế biến suy giảm so với quý I. Sự phân hóa giữa các thị trường xuất khẩu, cùng áp lực chi phí vốn và yêu cầu truy xuất nguồn gốc, tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động của ngành.


Tổng quan thị trường gỗ Việt Nam quý II/2026

Theo Cục Thống kê, xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ trong sáu tháng đầu năm 2026 đạt 8,58 tỷ USD, tăng 4,9%. Trong đó, quý II tăng trưởng cao hơn quý I, khi kim ngạch chỉ tăng 1,1%. Nguồn nguyên liệu khai thác trong nước cơ bản đáp ứng nhu cầu chế biến.

 

Tuy nhiên, tăng trưởng kim ngạch chưa phản ánh đồng đều tình hình doanh nghiệp. Khảo sát quý II ghi nhận đơn hàng giảm tại một bộ phận cơ sở sản xuất. Thị trường xuất khẩu cũng phân hóa: Hoa Kỳ chiếm gần một nửa kim ngạch nhưng có xu hướng giảm, trong khi Trung Quốc tăng nhanh.

 

Xuất khẩu gỗ tăng nhưng đơn hàng tại một bộ phận doanh nghiệp suy giảm 

Tình hình đơn hàng trong ngành gỗ

Theo Cục Thống kê, quý II/2026, đơn hàng mới giảm tại 26,4% doanh nghiệp chế biến gỗ và 27,3% doanh nghiệp sản xuất giường, tủ, bàn, ghế. Tỷ lệ doanh nghiệp ghi nhận đơn hàng xuất khẩu mới giảm lần lượt là 27,2% và 27,8%.

 

Các tỷ lệ này đều cao hơn mức chung của ngành chế biến, chế tạo, với 20,4% doanh nghiệp ghi nhận đơn hàng mới giảm và 19,6% ghi nhận đơn hàng xuất khẩu mới giảm.

 

Xu hướng đơn hàng và kim ngạch xuất khẩu

Các tỷ lệ khảo sát phản ánh nhận định của doanh nghiệp, không đồng nghĩa tổng đơn hàng toàn ngành giảm. Kim ngạch thể hiện giá trị xuất khẩu, còn khảo sát phản ánh biến động đơn hàng tại cơ sở sản xuất.

 

Sự khác biệt này cho thấy doanh nghiệp cần theo dõi nhu cầu từng thị trường và khả năng duy trì đơn hàng. Dù kim ngạch nửa đầu năm tăng, điều này chưa đồng nghĩa mọi doanh nghiệp đều có điều kiện kinh doanh thuận lợi.


Sản lượng gỗ khai thác và kim ngạch xuất khẩu gỗ sáu tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước.- Nguồn: Cục Thống kê.


Hoa Kỳ tiếp tục giữ vai trò chủ lực, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh

Hoa Kỳ vẫn là thị trường lớn nhất. Trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt khoảng 4,3 tỷ USD, chiếm khoảng 49,7% tổng kim ngạch. Kim ngạch sang thị trường này giảm so với cùng kỳ năm trước. Mức giảm khoảng 6,5% trong 5 tháng đầu năm và thu hẹp còn 4,6% sau 8 tháng. Do quy mô lớn, biến động tại Hoa Kỳ tác động trực tiếp đến kết quả chung, trong khi tăng trưởng từ các thị trường khác bù đắp một phần mức giảm.

 

Trung Quốc vươn lên vị trí thứ hai. Xuất khẩu sang Trung Quốc đạt khoảng 1,3 tỷ USD, tăng 46,5% so với cùng kỳ, vượt Nhật Bản để trở thành thị trường lớn thứ hai. Nhật Bản đạt khoảng 1,1 tỷ USD, tăng 5,6%. Tại châu Âu, kim ngạch sang Hà Lan tăng 141,5% và sang Đức tăng 46,9%. Mức tăng theo tỷ lệ phần trăm cần được đọc cùng quy mô kim ngạch của từng thị trường, vì giá trị ban đầu khác nhau.

 

Sản lượng gỗ khai thác tăng, diện tích rừng trồng mới giảm 

Sản lượng gỗ khai thác tiếp tục tăng

Sản lượng khai thác quý II/2026 đạt khoảng 7,41 triệu m³, tăng 5,8% so với cùng kỳ. Tính chung sáu tháng đầu năm, sản lượng đạt 11,77 triệu m³, tăng 4,5%. Kết quả này cho thấy hoạt động khai thác tiếp tục tăng, góp phần cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến.

 

Nguồn cung trong nước cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất. Tuy nhiên, sản lượng tăng không đồng nghĩa mọi doanh nghiệp đều tiếp cận được nguyên liệu phù hợp về chủng loại, chất lượng và giá cả. Vì vậy, bảo đảm nguồn cung ổn định vẫn là vấn đề cần quan tâm, nhất là với các cơ sở có yêu cầu riêng về nguyên liệu và hồ sơ nguồn gốc.



Diện tích rừng trồng mới giảm so với cùng kỳ

Diện tích rừng trồng mới tập trung trong quý II/2026 đạt khoảng 99.700 ha, giảm 5,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng, diện tích đạt khoảng 145.700 ha, giảm 3,5%. Theo Cục Thống kê, mức giảm trong quý II một phần xuất phát từ nền so sánh cao của cùng kỳ năm 2025, khi nhiều địa phương đẩy mạnh trồng lại diện tích bị thiệt hại sau bão Yagi vào năm 2024.

 

Do vậy, diện tích trồng rừng mới giảm trong nửa đầu năm chưa đủ để kết luận nguồn cung gỗ sẽ thiếu hụt trong ngắn hạn. Tác động đối với nguồn nguyên liệu còn phụ thuộc vào diện tích rừng hiện có, chu kỳ khai thác và cơ cấu chủng loại gỗ. Dù vậy, diễn biến này cho thấy cần tiếp tục theo dõi khả năng duy trì nguồn nguyên liệu trong trung và dài hạn.

 

Chi phí vốn và tính ổn định của nguồn nguyên liệu của thị trường gỗ

Theo khảo sát quý II/2026 của Cục Thống kê, 38,0% doanh nghiệp chế biến và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) cho biết lãi suất vay cao ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, 54,4% kiến nghị ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất cho vay và 43,6% đề xuất hỗ trợ ổn định nguồn nguyên liệu.

 

Các tỷ lệ kiến nghị không đồng nghĩa với tỷ lệ doanh nghiệp đang trực tiếp thiếu nguyên liệu. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy chi phí vốn và sự ổn định của nguồn cung vẫn là những vấn đề đáng quan tâm.

 

Yêu cầu truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn môi trường

Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR)

Yêu cầu truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn môi trường tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu gỗ. Theo Cục Thống kê, chính sách thương mại và các tiêu chuẩn ngày càng chặt chẽ là những yếu tố doanh nghiệp cần theo dõi.

 

Tại Liên minh châu Âu, Quy định chống phá rừng (EUDR) yêu cầu gỗ và sản phẩm gỗ thuộc phạm vi điều chỉnh không liên quan đến phá rừng, tuân thủ pháp luật tại nước sản xuất và có hồ sơ thẩm định theo quy định.

 

EUDR dự kiến áp dụng từ ngày 30/12/2026 đối với phần lớn doanh nghiệp và từ ngày 30/6/2027 đối với phần lớn doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ thuộc diện được gia hạn.

 

Đạo luật Lacey của Hoa Kỳ

Tại Hoa Kỳ, Đạo luật Lacey (Lacey Act) nghiêm cấm hoạt động nhập khẩu các sản phẩm thực vật có nguồn gốc khai thác trái phép. Một số mặt hàng gỗ và đồ nội thất thuộc diện quy định còn phải khai báo thông tin về loài thực vật và quốc gia khai thác.

 

Điều này đòi hỏi doanh nghiệp duy trì thông tin nguyên liệu và phối hợp với nhà cung cấp để đáp ứng yêu cầu của nhà nhập khẩu.

 

Chứng nhận quản lý rừng bền vững FSC và PEFC

Bên cạnh quy định pháp lý, chứng nhận FSC và PEFC giúp doanh nghiệp chứng minh nguồn gỗ có xuất xứ từ rừng được quản lý bền vững. Các chứng nhận này cũng hỗ trợ truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng.

 

Tuy nhiên, chứng nhận FSC và PEFC không thay thế nghĩa vụ tuân thủ pháp luật tại thị trường nhập khẩu.

 

Yêu cầu đối với doanh nghiệp xuất khẩu gỗ Việt Nam

Đối với doanh nghiệp xuất khẩu gỗ Việt Nam, đáp ứng các yêu cầu trên không chỉ đòi hỏi chất lượng sản phẩm mà còn cần quản lý thông tin nguyên liệu, lưu trữ chứng từ và kiểm soát nguồn gốc trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

 

Doanh nghiệp cần chủ động hoàn thiện hồ sơ nguồn gốc và quy trình quản lý nguyên liệu. Đây là cơ sở để duy trì quan hệ với khách hàng và hạn chế rủi ro khi tiếp cận các thị trường có yêu cầu cao về tính hợp pháp, bền vững của sản phẩm gỗ.

 

Triển vọng thị trường gỗ Việt Nam những tháng cuối năm 2026

Diễn biến xuất khẩu gỗ tại các thị trường chủ lực

Theo số liệu trong bản tin của Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 11,81 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Hoa Kỳ chiếm 50,1% tổng kim ngạch nhưng giảm 4,6%; Trung Quốc chiếm 15% và tăng 43,4%; Nhật Bản chiếm 12,5% và tăng 5,3%. Những kết quả này cho thấy sự phân hóa giữa các thị trường tiếp tục được duy trì trong giai đoạn sau sáu tháng đầu năm.


Thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2026 – Nguồn: Bộ Công Thương, Bản tin Thị trường Nông, Lâm, Thủy sản ngày 11/9/2026; số liệu từ Cục Hải quan Việt Nam.


Triển vọng xuất khẩu gỗ những tháng cuối năm

Trong những tháng cuối năm, triển vọng xuất khẩu phụ thuộc vào nhu cầu tại các thị trường chủ lực và khả năng duy trì đơn hàng. Tăng trưởng tại Trung Quốc cùng một số thị trường khác tạo cơ hội đa dạng hóa thị trường, nhưng tỷ trọng lớn của Hoa Kỳ khiến kết quả chung vẫn chịu ảnh hưởng đáng kể từ diễn biến tại thị trường này.

 

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần theo dõi tình hình đơn hàng, kiểm soát chi phí vốn và đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường. Khả năng duy trì tăng trưởng sẽ phụ thuộc vào việc chuyển hóa nhu cầu thành đơn hàng thực tế và đáp ứng yêu cầu của nhà nhập khẩu.




 
 
 

Comments


Commenting on this post isn't available anymore. Contact the site owner for more info.
bottom of page